Tìm hiểu về Gỗ Liễu (Willow) | Diễn đàn đồ gỗ

Tìm hiểu về Gỗ Liễu (Willow)

admin

Ban quản trị cấp cao nhất
Thành viên BQT
#1
Gỗ Liễu (Gỗ Willow) xẻ sấy nhập khẩu
Liễu Hoa Kỳ (American wellow, Black willow, Swamp willow) có tên khoa học là Salix spp, phân bố ở miền Đông Hoa Kỳ. Các khu vực mua bán chủ yếu nằm ở những tiểu bang miền Trung và miền Nam, dọc sông Missisipi.
Dát gỗ màu nâu kem nhạt, có chiều rộng thay đổi tùy thuộc điều kiện sống của gỗ. Trái lại, tâm gỗ có màu từ nâu đỏ nhạt đến nâu xám. Mặt gỗ đẹp, khít.
Tính năng sản phẩm
1. Mật độ: 417kg / mét khối;
2, độ cứng: kết cấu đồng đều, cường độ uốn, cường độ nén kém;

Ưu điểm sản phẩm
1, cùng loài là một loài cây nhỏ, cung cấp không lớn;
2, gỗ đỏ, gỗ sồi màu trắng sẫm, sự khác biệt màu sắc sẽ lớn hơn;
Sản phẩm áp dụng
1, đồ nội thất, nội thất moldings;
2, cửa ra vào, thiết bị thể thao, đồ dùng nhà bếp;
3, đồ chơi.

Vỏ cây liễu có màu xám đen và đen, với rãnh rộng, gỗ màu đỏ nhạt, gỗ cây sậm và những chiếc nhẫn hàng năm rõ ràng. Cấu trúc gỗ là tốt, mềm mại, mịn màng sau khi bào, dễ cháy, và hơi kém khả năng chống ăn mòn. Chiều rộng của gỗ màu trắng thay đổi với các điều kiện tăng trưởng, và màu sắc là màu be nhạt. Màu sắc của trái tim chỉ là ngược lại, từ màu nâu đỏ nhạt đến nâu xám. Gỗ liễu có kết cấu mịn và đồng đều, mặc dù nó thường được cai trị, đôi khi với hạt gỗ đường chéo, hoặc với một hình tròn. . Folks sử dụng Willow để làm đồ nội thất.

gỗ liễu.JPG

gỗ liễu
Vân gỗ nhìn chung thẳng nhưng đôi khi đan cài hoặc có các đốm hình.
Chi Liễu (danh pháp khoa học: Salix) là một chi của khoảng 350-450 loài cây thân gỗ và cây bụi với lá sớm rụng, chủ yếu sinh sống trong các vùng đất ẩm của các khu vực ôn đới và hàn đới thuộc Bắc bán cầu.
Một số loài cây bụi và cây thân gỗ nhỏ được gọi chung là liễu bụi hay liễu gai. Một số loài liễu, cụ thể là các loài sinh sống cận Bắc cực và vùng có khí hậu núi cao, có kích thước rất nhỏ; như liễu lùn (Salix herbacea) ít khi cao quá 6 cm, mặc dù nó lan rộng trên mặt đất.
Các loài liễu rất dễ lai ghép với nhau và hàng loạt các giống lai ghép đang hiện hữu, trong cả tự nhiên lẫn gieo trồng. Một ví dụ đáng chú ý là liễu rủ (Salix × sepulcralis), được trồng khá phổ biến để làm cây cảnh, là giống cây lai ghép giữa thùy liễu ở Trung Quốc với liễu trắng tại châu Âu.
Tất cả các loài liễu đều có dịch nhiều nước, vỏ cây có vảy nhăn chứa nhiều axít salicylic, gỗ mềm, dai nhưng dễ uốn, các cành mảnh dẻ và các rễ lớn có thớ thường với thân bò.
Các rễ này đáng chú ý vì kích thước, độ dai và sống dai.
Các lá nói chung thuôn dài nhưng cũng có thể tròn hay hình ôvan, thường có mép lá với khía răng cưa. Tất cả các chồi đều là dạng chồi bên; không có chồi đỉnh. Chúng được bao phủ bằng một vảy bắc, bao quanh tại phần đế của nó 2 chồi nhỏ mọc đối, so le với 2 lá nhỏ chóng rụng mọc đối, tương tự như vảy bắc. Các lá mọc so le, ngoại trừ cặp lá đầu tiên rụng khi dài khoảng 2–3 cm (1 inch).
Chúng là dạng lá đơn, gân lá lông chim, thông thường hình mũi mác thẳng. Thường chúng có khía răng cưa, thuôn tròn tại phần đế và nhọn đỉnh.
Về màu lá, tùy theo loài mà lá có các sắc thái khác nhau của màu xanh lục, dao động trong khoảng từ vàng tới xanh lam.
gỗ liễu 2.jpg

gỗ liễu 2
Cuống lá ngắn, các lá kèm rất dễ thấy, trông tương tự như như các lá nhỏ và tròn, đôi khi tồn tại đến giữa mùa hè. Tuy nhiên, ở một số loài thì chúng lại nhỏ, sớm rụng và không dễ thấy.
Hoa
Các loài liễu là đơn tính khác gốc với hoa đực và hoa cái xuất hiện dưới dạng hoa đuôi sóc trên các cây khác nhau; các hoa đuôi sóc này xuất hiện vào đầu mùa xuân, thường trước khi ra lá hoặc cùng với các lá đầu tiên.
Các hoa đực không có đài hay tràng hoa; chúng chỉ bao gồm các nhị, với số lượng từ 2 tới 10, được kèm theo là tuyến mật hoa và gài vào phần đế của vảy bắc sinh ra trên trục của cành hoa rủ xuống (hoa đuôi sóc). Vảy bắc này hình ôvan, liền và nhiều lông tơ.
Các bao phấn màu hồng khi ở dạng chồi nhưng có màu vàng cam hay tía sau khi hoa nở, chúng là dạng 2 ngăn và các ngăn mở theo chiều dọc. Các chỉ nhị tương tự như sợi chỉ, thường có màu vàng nhạt và nhiều lông tơ.
Các hoa cái cũng không có đài hay tràng hoa; chỉ bao gồm 1 bầu nhụy được kèm theo một tuyến dẹt và nhỏ, gài vào phần đế của vảy bắc cũng sinh ra trên trục của hoa đuôi sóc. Bầu nhụy là dạng một ngăn, vòi nhụy 2 thùy, nhiều noãn.
Đặc tính ứng dụng & vật lý
Gỗ dễ xử lý cả bằng dụng cụ cầm tay lẫn máy móc nhưng cần cẩn trọng khi thao tác để tránh gây sần sùi mặt gỗ ở những nơi vân gỗ đan cài. Gỗ bám đinh và ốc vít tốt, độ dính keo tuyệt vời, có thể được chà nhám và đánh bóng để thành thành phẩm rất tốt. Gỗ khô tương đối nhanh, nguy cơ xuống cấp rất ít dù rằng có thể dễ bị ẩm trở lại. Sau khi khô, gỗ giữ được sự ổn định về kích thước.
Độ chịu lực uốn xoắn, độ chịu lực nén, khả năng kháng va đập và độ chắc thấp. Khả năng uốn xoắn bằng hơi nước thấp.
Độ bền
Không có khả năng kháng sâu ở tâm gỗ, dễ bị côn trùng tấn công. Tâm gỗ không thấm chất bảo quản nhưng dát gỗ có thể thấm chất này.
Trữ lượng sẵn có
Hoa Kỳ: Tương đối sẵn có theo vùng, dưới dạng gỗ phách và gỗ phủ mặt (vơni).
Xuất khẩu
Rất hạn chế vì mức cầu thấp.
Công dụng chính
Đồ gỗ, gỗ chạm, gỗ trang trí nội thất, ván lót, cửa cái, dụng cụ thể thao, dụng cụ nhà bếp và đồ chơi.
 
Sửa lần cuối:

Facebook Comment